Giám sát đánh giá dạy và học tích cực tại 14 tỉnh

Áp dụng D&HTC đã trở thành nội dung hoạt động chuyên môn chủ yếu trong các trường học từ TH đến THCS và CĐSP. Nhờ hoạt động chuyên môn thường xuyên đã có tác dụng nâng cao năng lực sư phạm cho đội ngũ GV/giảng viên, giúp GV/giảng viên thực hiện tốt chương trình và SGK mới.

 


Sau một năm học áp dụng DHTC, từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2007, Dự án đã tổ chức các đoàn chuyên gia đến các địa phương nhằm giám sát, hỗ trợ giáo viên, giảng viên về việc thực hiện đổi mới PPDH theo hướng D&H tích cực và đánh giá kết quả áp dụng D&HTC.

1. Mục tiêu:

  • Giám sát việc áp dụng D&HTC của giảng viên các trường CĐSP, GV các trường thực hành sư phạm (TH, THCS, PTDTNT) tại 14 tỉnh miền núi phía Bắc.
  • Hỗ trợ GV/giảng viên thực hiện tốt D&HTC. Giải đáp những băn khoăn, vướng mắc của GV/giảng viên khi thực hiện D&HTC .
  • Khuyến nghị với lãnh đạo nhà trường về tổ chức và quản lý việc thực hiện D&HTC.
  • Đánh giá chung về việc thực hiện D&HTC tại 14 tỉnh, đưa ra những kiến nghị và đề xuất với Ban quản lý Dự án nhằm duy trì và phát triển D&HTC tại 14 tỉnh tham gia Dự án.


2. Phương thức làm việc:

  • Dự giờ theo thời khóa biểu ( không báo trước ) . Mời tổ chuyên môn cùng dự.
  • Trao đổi trực tiếp với GV/giảng viên và tổ chuyên môn về ưu điểm, hạn chế của giờ học trong việc tổ chức các hoạt động dạy học theo hướng tích cực, định hướng giải pháp cho các giờ dạy sau.
  • Trao đổi với lãnh đạo nhà trường kiến nghị về tổ chức và quản lý việc áp dụng D&HTC.
  • Báo cáo tổng hợp kết quả giámm sát và kiến nghị, đề xuất với Dự án các giải pháp nhằm khắc phục hạn chế và nâng cao hiệu quả áp dụng D&HTC.

 

3. Lực lượng tham gia giám sát

  • Cán bộ Dự án
  • Các chuyên gia tư vấn của Dự án
  • Chuyên viên Vụ Giáo dục Trung học
  • Cán bộ nghiên cứu Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục
  • Cán bộ trường Đại học sư phạm Hà Nội I, giảng viên trường ĐH nghệ thuật trung ương
  • Cán bộ Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội, Hà Tây.

 

4. Kết quả:
Dự án đã cử 9 đoàn giám sát ở 14 tỉnh. Tổng số giờ học được dự và góp ý kiến là: 817 tiết trong đó có 315 tiết dạy của giảng viên SP, 142 tiết dạy của giáo viên các trường TH, 177 tiết của GV các trường THCS và 183 tiết dạy của GV các trường PTDTNT.

4.1. Kết quả giám sát và đánh giá:

Bảng 1.Đánh giá kết quả dự giờ của các cấp học:

Cấp học

Số giờ dự

Xếp loại

Ghi chú

Yếu

Trung bình

khá

Tốt

Số tiết

%

Số tiết

%

Số tiết

%

Số tiết

%

CĐSP

315

6

2

90

29

143

45

76

24

 

Tiểu học

142

0

0

7

5

64

45

71

50

 

THCS

177

1

0,5

17

9,5

81

46

78

44

 

DTNT

183

2

1

24

13

82

45

75

41

 

Tổng

817

9

1

138

17

370

45

300

37

 


Hình  1.Biểu đồ minh hoạ Kết quả giám sát và đánh giá:

bieudo1

 

Hiệu quả áp dụng D&HTC sau một năm tác động được thể hiện rõ trong bản so sánh với kết khảo sát cơ bản ban đầu ( tháng 10 – 12/2005)

 

Năm

Tổng số tiết dự

Xếp loại

Chưa đạt yêu cầu

Đạt yêu cầu

Khá và tốt

2005

347

22%

28%

50%

2007

817

1%

17%

82%


Hình 2. Biểu đồ so sánh kết quả khảo sát tháng 10 - 12/2005 và giám sát hỗ trợ tháng 3-5 /2007:

bieu do 2


So sánh kết quả của 2 đợt theo từng cấp học:

Bảng 7. so sánh kết quả giờ dự qua khảo sát ban đầu tháng 10-12/2005 và giám sát hỗ trợ sau 1 năm thực hiện, tháng 3-5/2007(theo cấp học)

 

Cấp học

Số giờ dự

Xếp loại

Năm 2005

Năm 2007

Chưa đạt yêu cầu (%)

Đạt yêu cầu
(%)

Khá và Tôt
(%)

2005

2007

2005

2007

2005

2007

1. CĐSP 

93

315

33,5

2

30

29

36,5

69

2. Tiểu học

60

142

17

0

13

5

70

95

3. THCS

103

177

17,5

0,5

32

9,5

50,5

90

4. Dân tộc nội trú

91

183

20

1

36

13

44

86

 

4.2. Nhận xét chung

Sau một năm tác động của dự án, việc thực hiện D&HTC tại 14 tỉnh đã có sự thay đổi đáng kể. Hầu hết các giờ dạy của GV trường tiểu học, THCS thực hành và trường PTDTNT thuộc dự án đã có nhiều cố gắng, sáng tạo trong áp dụngD&HTC phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương. Đối với các giảng viên sư phạm cũng đã có những chuyển biến tuy nhiên so với trường thực hành thì vẫn còn chậm hơn.

Áp dụng D&HTC đã trở thành nội dung hoạt động chuyên môn chủ yếu trong các trường học từ TH đến THCS và CĐSP. Nhờ hoạt động chuyên môn thường xuyên đã có tác dụng nâng cao năng lực sư phạm cho đội ngũ GV/giảng viên, giúp GV/giảng viên thực hiện tốt chương trình và SGK mới.

 

(Nội dung chi tiết xem “Báo cáo tổng hợp kết quả giám sát hỗ trợ áp dụng D&HTC tại 14 tỉnh miền Núi phía Bắc” ở mục Tài nguyên/Trung tâm nguồn/06_Tài nguyên khác hoặc truy cập trực tiếp TẠI ĐÂY)